SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “Một số biện pháp đổi mới công tác quản lý để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non”

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Một số biện pháp đổi mới công tác quản lý để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non”
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lý do chọn đề tài:
Lứa tuổi mầm non có vị trí rất quan trọng trong suốt quá trình phát triển cuộc đời của mỗi con người. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới góc độ sinh lý, tâm vận động, tâm lý xã hội... đã khẳng định sự phát triển của trẻ từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn phát triển có tính quyết định để tạo nên thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ trong tương lai. Những kết quả nghiên cứu về sự phát triển đặc biệt của não bộ trong những năm đầu tiên của cuộc đời, những nghiên cứu về ảnh hưởng và ích lợi của các dịch vụ GDMN có chất lượng đã khiến các Chính phủ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam ngày càng quan tâm phát triển GDMN.
Không có mô hình chung cho GDMN ở tất cả các nước, tuy nhiên, vai trò của giáo dục ngày càng được coi trọng đối với mọi quốc gia. Đến nay có trên 160 nước và các tổ chức quốc tế đã cam kết coi GDMN là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người. Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “Thời kỳ vàng của cuộc đời'' Ở nước ta, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng giáo dục mầm non, xác định nhiệm vụ GDMN là thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ ba tháng tuổi đến sáu tháng tuổi nhằm giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một. Giáo dục mầm non có vị trí là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đề án Phát triển PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015'' đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục mầm non thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tiếp thu các lý luận và kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới. Đề án cũng đã , phân tích và đánh giá thực trạng giáo dục mầm non cả nước và mỗi vùng miền trong những năm qua. Trên cơ sở đó, đặt yêu cầu phát triển PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi nói riêng và giáo dục mầm non nói chung trong bối cảnh phát triển kinh tế- xã hội chung của đất nước hiện nay.
Thực vậy, là một cán bộ quản lý trường mầm non tôi thiết nghĩ giáo dục mầm non không phải là dạy trẻ thơ đọc chữ, học kiến thức khoa học; đây là loại hình giáo dục đặc biệt, là sự chuẩn bị cho trẻ thơ những tiền đề quan trọng trước khi bước vào giáo dục nhà trường. Thông qua sự chăm sóc ân cần, đúng phương pháp khoa học, phù hợp với sự phát triển tâm- sinh lý của trẻ, để nuôi dưỡng thể chất và tâm hồn cho trẻ. Các yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ thơ bao gồm: Chủ trương, chính sách vĩ mô, sự vận dụng và thực hiện của ngành học và các cấp quản lý, kiến thức khoa học và sự nỗ lực của những người công tác quản lý, cán bộ giáo viên và nhân viên tại các cơ sở giáo dục mầm non. Những yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ, cùng hướng tới mục tiêu giúp cho trẻ thơ thực sự thụ hưởng những thành quả tốt  đẹp nhất của xã hội.
Hiện tại công tác giáo dục trẻ ở tr­ường mầm non chúng tôi còn gặp rất nhiều khó khăn. Do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan  dẫn đến chất l­ượng  giáo dục trẻ phần nào chư­a đạt đư­ợc yêu cầu  nh­ư mong muốn, ch­ưa thực sự đáp ứng đ­ược sự phát triển của đất nước trong thời đại mới. Là một người quản lí tr­ường mầm non tôi xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục  mầm non và thấy rằng việc nâng cao chất l­ượng giáo dục trẻ mầm non toàn ngành nói chung và với tr­ường mầm non chúng tôi nói riêng là vô cùng cần thiết.
Sau thời gian nghiên cứu, tìm biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường Mầm non, tôi mạnh dạn tìm hiểu đề tài “ Một số biện pháp đổi mới công tác quản lý để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non” với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ một cách hợp lý.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nhằm đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non, giúp cho các cấp quản lý biết được thực trạng chăm sóc giáo dục trẻ Mầm non hiện nay để có giải pháp thực hiện tốt hơn.
3. Đối tượng  và phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng nghiên cứu:
- Ttrẻ trong độ tuổi Mầm non;
- Chương trình giáo dục  Mầm non;
- Một số hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong trường Mầm non.
b. Phạm vi nghiên cứu:
Các hoạt động hàng ngày của trẻ Mầm non
4. Giả thiết nghiên cứu:
Nếu thực hiện thành công các giải pháp của đề tài  thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra khảo sát trẻ;
- Phương pháp thực nghiệm;
- Phương pháp hội thảo.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Cơ sở khoa học:
1.1. Cơ sở lý luận: Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của ngành Giáo dục đào tạo. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở bậc học tiếp theo.
Chương trình giáo dục mầm non thể hiện được mục tiêu giáo dục mầm non: Cụ thể hoá các yêu cầu về công tác nuôi dưỡng chăm sóc trẻ ở từng độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, thẩm mỹ, trí tuệ; hướng dẫn cách thức đánh giá phát triển của trẻ ở lứa tuổi mầm non. Do đó cha, mẹ và những người làm công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ mầm non phải xác định được vị trí, vai trò, nội dung và nhiệm vụ của mình trong công nuôi dưỡng chăm sóc trẻ, phải làm thế nào để phát triển toàn diện về các mặt : “Thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và kỹ năng xã hội, thẩm mỹ”, tạo điều kiện cho trẻ phát huy khả năng sáng tạo của mình có những thói quen hành vi tốt hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa: Khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà cân đối. Để thùc hiÖn ®­îc ®iÒu ®ã,  ®ßi hái ng­êi c¸n bé qu¶n lý ph¶i có những biện pháp đổi mới  trong công tác quản lý của nhà trường, chỉ đạo hoạt động chuyên môn, nâng cao năng lực sư phạm, chỉ đạo thực hiện chương  trình giáo dục Mầm non  một cách khoa học và có hiệu quả, phù hợp với từng độ tuổi  nhằm giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
Sự lớn lên và phát triển của trẻ Mầm non đều phải trải qua những đặc điểm chung nhưng ta nhận thấy rằng trẻ em ngày nay phát triển sớm hơn cả về tâm sinh lý, tình cảm, trí tuệ, các khuynh hướng, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, thẩm mỹ của trẻ ngày càng trở nên đa dạng phong phú, trẻ phát triển sớm, hiểu biết nhiều, nói năng mạch lạc hơn.
Nâng cao chất lượng giáo dục trẻ là nhiệm vụ mục tiêu cơ bản nhất của trường mầm non. Thực hiện được mục tiêu này là góp phần thực hiện  mục tiêu giáo dục mầm non và cũng là những dấu mốc quan trọng cho sự thành công trong công tác quản lý nhà trường.
Với vai trò Hiệu trưởng của nhà trường, chỉ đạo chung các hoạt động, tập trung việc chỉ đạo chuyên môn xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện theo kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kiểm tra, đánh giá sự phát triển về giáo dục của trẻ, phương pháp dạy của giáo viên, đánh giá, khảo sát chất lượng giáo dục, xây dựng kỷ cương, nề nếp trong nhà trường, phát huy tinh thần tự học, tự bồi dưỡng; nâng cao năng lực sư phạm, chỉ đạo thực hiện giáo dục một cách khoa học nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục trẻ đáp ứng với yêu cầu đổi mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chính vì vậy, đổi mới công tác quản lý đối với mỗi người hiệu trưởng được đặc biệt quan tâm: Xác định rõ vai trò nhệm vụ để tìm ra những biện pháp cụ thể, phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ mầm non giúp trẻ được phát triển toàn diện. Là nền móng hình thành nhân cách trẻ, làm cơ sở vững chắc cho các bậc học tiếp theo.
Từ thực tế trên, là người quản lý, cần xác định rõ việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ Mầm non là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà mình không được phép sao nhãng mà bằng mọi cách phải xây dựng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ được tốt hơn góp phần vào việc xây dựng nền giáo dục xứng tầm với thời đại hiện nay.
1.3. Đánh giá thực trạng trước khi thực hiện đề tài.
a. Tình hình khảo sát điều tra thực trạng:
Trước khi thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi tiến hành điều tra, khảo sát tình hình thực trạng về chất lượng trẻ Mầm non như sau:
Bảng 1 : Số lượng trẻ
 
      T/S
nhóm               lớp
T/S trẻ    NT     Tỷ lệ T/S  trẻ     MG    Tỷ lệ      Tỷ lệ
chuyên                 cần
8       36    26%     180   95% 85%
 
Bảng 2: Chất lượng chăm sóc trẻ
 
Tổng số trẻ Đánh giá Số trẻ Tỷ lệ %
      216 PTBT cân nặng 194 90%
PTBTchiều cao 190 88%
SDD vừa 22 10%
Thấp còi độ 1 26 12%
 
 
Bảng 3: Chất lượng giáo dục trẻ
 
Tổng số trẻ Xếp loại Số trẻ Tỷ lệ %
216 Giỏi 0 0
Khá 86 40 %
Đạt yêu cầu 108 50%
Yếu 22 10%
b. Thuận lợi:
- Là một địa phương có truyền thống hiếu học, công tác XHH GD phát triển sâu rộng có tổng dân số là 1331 hộ gia đình với 4424 khẩu, được chia ra thành 8 thôn.
- Trên địa bàn xã có 02 trường học, trong đó trường MN: 01; trường TH: 01.
- Trường mầm non có đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trẻ, yêu nghề mến trẻ, nhiệt tình đoàn kết giúp đỡ nhau trong công tác.
- Trường có 8 nhóm lớp, trong đó: 2 nhóm trẻ; 6 lớp mẫu giáo với tổng số trẻ 216 cháu; Trẻ ngoan, đi học  chuyên cần, tỷ lệ trẻ ra lớp ở Mẫu giáo 95%
- Cơ sở vật chất đảm bảo cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ .
- Trường thực hiện chương trình giáo dục Mầm non. Có đầy đủ tài liệu trang thiết bị cho giáo viên tham khảo học tập.
- Hình thức đổi mới phương pháp lên lớp cho giáo viên thường xuyên được quan tâm.
- Nhờ sự chỉ đạo sát sao của phòng Giáo dục, sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể, ban giám hiệu nhà trường năng động sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm cao nên trường đã có cơ sở vật chất tương đối đảm bảo.
- Môi trường hoc tập trong và ngoài lớp đẹp, thân thiện. Các nhóm lớp đã có đồ dùng, đồ chơi tương đối đầy đủ theo danh mục đồ dùng, đồ chơi tối thiểu - Thiết bị dạy học giáo dục Mầm non theo thông tư 02/2010 của Bộ GD-ĐT; Đa số các nhóm lớp đã có ti vi, đầu đĩa, có máy tính.
- Trường đã phân chia được độ tuổi triệt để theo từng nhóm, lớp.
- Phụ huynh luôn đồng tình ủng hộ về việc đưa trẻ đến trường và cho trẻ ăn bán trú.
- Hàng năm giáo viên được học qua các lớp chuyên đề về kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ do, sở và phòng tổ chức, qua các đợt thao giảng, dạy mẫu, dạy chuyên đề ở cụm, trường, giúp giáo viên học hỏi đúc rút kinh nghiệm lẫn nhau trong công tác giảng dạy.
- Trẻ đến trường được chăm sóc dạy giỗ và theo dỏi sự phát triển, đánh giá qua 5 lĩnh vực phát triển.
- Bản thân tôi đã có kinh nghiệm trên 10 năm làm quản lý.
Tất cả các mặt thuận lợi đó đã tạo điều kiện cho tôi đổi mới công tác quản lý đê nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non
c. Khó khăn:
- Tôi được phân công làm quản lý  tại trường Mầm non ở xã có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đời sống kinh tế của nhân dân chủ yếu phụ thuộc vào nghề lao động tự do nay đây mai đó, không ổn định, một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học hành của con trẻ.
- Đội ngũ giáo viên 14 đồng chí,  định biên trên lớp 1,7 còn thiếu so với điều lệ Trường Mầm non. Giáo viên phần đa mới ra trường một vài năm nên kinh nghiệm đứng lớp chưa nhiều, tác phong lên lớp còn rụt rè, e ngại và chưa thực sự chú trọng đến việc thay đổi phương pháp cũng như hình thức lên lớp. Nhiều giáo viên trẻ đang trong độ tuổi sinh đẻ, nuôi con nhỏ…Nên đã ảnh hưởng không ít tới chất lượng chung của trường.
- Số giáo viên có kinh nghiệm và có tâm huyết với nghề thì tuổi lại cao do đó việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giảng dạy cũng gặp khó khăn, chất lượng giáo viên chưa đồng đều.
- Thời gian làm việc của giáo viên quá tải từ 6 giờ  đến 17 giờ.
- Năng lực tổ chức một số hoạt động của giáo viên vẫn còn hạn chế. Một số giáo viên có năng lực nhưng lười tư duy, ít sáng tạo nên các hoạt động diễn ra còn khô khan chưa lôi cuốn trẻ vào các giờ học.
- Về cơ sở vật chất: Trường còn thiếu  phòng chức năng, phòng làm việc của hiệu phó;
- Trường còn đóng tại 2 điểm, khó khăn trong việc quản lý chỉ đạo chung của BGH.
Đánh giá được thực trạng nói trên, là một cán bộ quản lý, để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tại trường  bản tôi đã tích cực tìm tòi,  nghiên cứu và sử dụng một số biện pháp như sau.
2.  Các  biện pháp thực hiện:
2.1. Xây dựng kế hoạch
 Đứng trước thực trạng tình hình  của nhà trường, ngay từ đầu năm học tôi phân công giáo viên dạy các lớp phù hợp với yêu cầu của từng độ tuổi và lập kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ phù hợp vời tình hình thực tế của địa phương, của nhà trường. Để lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ, tôi căn cứ vào thực trạng đã khảo sát về chất lượng trẻ và xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng độ tuổi, sau đó phổ biến cho giáo viên chủ nhiệm lớp làm căn cứ xây dựng kế hoạch phù hợp với trẻ lớp mình phụ trách cụ thể:
+ Hiệu trưởng giao nhiệm vụ cho Ban chuyên trách x©y dùng  kế hoạch nhiệm vụ chung của năm học.
+ Sau khi thu thập và xử lí các thông tin, tập hợp số liệu, Ban chuyên trách tham mưu với Hiệu trưởng và hình thành bản kế hoạch sơ bộ.
+ Khi đã hình thành bản kế hoạch sơ bộ, Hiệu trưởng tổ chức cuộc họp công bố các chỉ tiêu, nhiệm vụ của năm học đã được dự kiến.
 
 
 
Tổ chức họp công bố các chỉ tiêu, nhiệm vụ của năm học đã được dự kiến và
tham khảo ý kiến đóng góp của giáo viên.
 
+ Sau khi tham khảo ý kiến đóng góp của giáo viên và các tổ, điều chỉnh các nội dung của bản kế hoạch, Hiệu trưởng cho Ban chuyên trách soạn thảo kế hoạch chính thức.
+ Hiệu trưởng ra quyết định thực hiện và phân công nhiệm vụ cho các tổ chức, cá nhân trong nhà trường thực hiện.
Với việc xây dựng kế hoạch này, Hiệu trưởng vừa tận dụng phát huy trí tuệ tập thể, làm tăng thêm trách nhiệm và tinh thần tự giác của từng cá nhân trong nhà trường.
2.2: Nâng cao nhận thức về tư tưởng, chính trị
- Thống nhất nhận thức vai trò của công tác chính trị tư tưởng trong quá trình phát triển của nhà trường. Đây là yếu tố đặc thù để giúp chúng ta xác định công tác chính trị tư tưởng quyết định phần lớn chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, nâng cao uy tín của nhà trường. Điều này cần được quán triệt, thống nhất nhận thức cho mọi thành viên trong nhà trường. ChÝnh v× thÕ mµ hµng n¨m vµo dÞp ®Çu n¨m häc t«i tæ chøc cho c¸n bé, gi¸o viªn, nh©n viªn trong tr­êng häc tËp ®Ó n©ng cao nhËn thøc t­ t­ëng chÝnh trÞ vµ qu¸n triÖt  ®Ó c¸n bé, §¶ng viªn xác định rõ vai trò của m×nh đối với việc tăng cường công tác chính trị tư tưởng trong nhà trường.
 
 
Hình cán bộ và giáo viên tham gia học bồi dưỡngTổ chức học tập chính trị để nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị cho CB, GV, NV
 
Cán bộ quản lý nhà trường phải gương mẫu chấp hành nghiêm túc đ­ường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà n­ước, nội quy, quy chế chuyên  môn của ngành, nhiệm vụ năm học, nội quy của nhà  trư­ờng, quy chế chuyên môn...để từ đó tuyên truyền đến cán bộ giáo viên trong nhà trường nhằm xác lập ở họ bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng, tuân thủ pháp luật, giác ngộ lí tưởng và lòng hăng say với nhiệm vụ được phân công.
Triển khai sâu rộng nhiệm vụ xây dựng đạo đức, lối sống cho đảng viên, cán bộ giáo viên thông qua các chương trình hành động thực hiện các cuộc vận động chung của toàn xã hội cũng như các cuộc vận động trong ngành Giáo dục. Xây dựng tập thể nhà trường trở thành một khối thống nhất, đoàn kết nhất trí và có ý thức bảo vệ tập thể, giúp đỡ lẫn nhau về chuyên môn nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường.
Bên cạnh đó cần có cơ chế giám sát đạo đức, lối sống đối với từng đối tượng cụ thể trong nhà trường.
 Tăng cường tuyên truyền, cổ vũ nhân tố mới, điển hình tiên tiến. Các gương điển hình tiên tiến là kết quả cụ thể của các phong trào thi đua thực hiện các cuộc vận động. Tuyên truyền các gương điển hình tiên tiến sẽ khuyến khích được năng lực tự giác, sáng tạo trong đảng viên, cán bộ giáo viên toàn trường, tạo động lực cho sự phát triển của nhà trường trong giai đoạn mới.
Từ việc nhận thức tư tưởng, chính trị đó mà người quản lý cần đổi mới công tác quản lý trường học các vấn đề sau:
Cán bộ quản lý phải đổi mới tư duy lãnh đạo, nhận thức rõ ràng, đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ năm học hiệu quả. Nghiên cứu, triển khai, tổ chức  thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về GDMN hiện hành nhằm tạo nên hành lang pháp lý cao nhất cho công tác đổi mới. Tích cực tham mưu các cấp về chính sách, cơ chế hoạt động của trường mầm non. Tăng cường việc kiểm tra, chỉ đạo việc thực hiện các văn bản trong quản lí, chỉ đạo hoạt động của nhà trường.
Tham mưu và thực hiện công tác bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên từng bước đủ các điều kiện, tiêu chuẩn theo chuẩn Hiệu trưởng, hiệu phó và chuẩn nghề nghiệp giáo viên.
Tổ chức thực hiện và rút kinh nghiệm trong việc thực hiện“Ba công khai”, đặc biệt chú trọng đến việc công khai hiệu quả chất lượng giáo dục.
Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng. Phát động các phong trào thi đua toàn diện, theo từng đợt tạo không khí thi đua sôi nổi lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn trong năm. Nhà trường lựa chọn một số nội dung đổi mới và chỉ đạo mỗi cán bộ, giáo viên đăng kí 1 nội dung đổi mới để tạo thành phong trào thi đua thực sự. Chỉ đạo xây dựng trường mầm non theo vành đai chất lượng Nâng cao chất lượng mẫu giáo 5 tuổi.
Như vậy, công tác chính trị tư tưởng là một bộ phận quan trọng trong mọi hoạt động vì sự phát triển của nhà trường. Một khi vai trò của công tác chính trị tư tưởng được nhận thức đầy đủ và các giải pháp được thực hiện đồng bộ sẽ là một trong những yếu tố quyết định giúp cho nhà trường đạt được những mục tiêu giáo dục đã đề ra.
2.3. Quản lý về thực hiện chương trình
§Ó qu¶n lý  tèt viÖc thùc hiÖn ch­¬ng tr×nh cña gi¸o viªn, ban gi¸m hiÖu cÇn nghiên cứu các văn bản về hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN, riêng đối với mẫu giáo 5 tuổi cần nghiên cứu thêm quy định Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi tại thông tư số: 23/TT-BGD&ĐT ngày 22/7/2010 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. MÆt kh¸c, cán bộ quản lí, giáo viên ph¶i  tham gia bồi dưỡng, tập huấn, trao đổi, học tập, rút kinh nghiệm việc thực hiện chương trình GDMN. ChØ ®¹o 100% lớp thực hiện theo chương trình. Bố trí giáo viên phù hợp với năng lực chuyện môn. Hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch chăm sóc giáo dục theo kế hoạch tháng, tuần. Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch hoạt động cho trẻ theo từng chủ đề. Khi lập kế hoạch cần thực hiện rõ các hoạt động tổ chức, phương pháp để khuyến khích hứng thú và tích cực hoạt động của trẻ.  Khuyến khích giáo viên tự học, tự nghiên cứu tài liệu.
Tuyên truyền rộng rãi cho các bậc cha mẹ trẻ và cộng động hiểu về tầm quan trọng của giáo dục mầm non, để có biện pháp phối hợp tác động kịp thời giữa gia đình và nhà trường. Chú ý rèn kĩ năng cơ bản về cách cầm bút, ngồi học đúng tư thế, cách mở sách vở, … tuyệt đối không dạy trước chương trình lớp 1.
Nhà trường quan tâm chỉ đạo thực hiện công bằng trong giáo dục., trẻ khuyết tật, con các gia đình chính sách phù hợp với nhu cầu, khả năng của trẻ và điều kiện thực tế của địa phương, trường lớp.
Hướng dẫn giáo viên lồng ghép các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, vệ sinh cá nhân, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả  vào các hoạt động giáo dục giúp trẻ tăng cường thực hành trải nghiệm để hình thành những hành vi ứng xử đúng đối với môi trường, thói quen tiết kiệm điện, nước trong sinh hoạt, thực hiện đúng các quy định an toàn giao thông.
Hướng dẫn giao viên lồng ghép, đưa các trò chơi dân gian, các bài hát dân ca, hò vè vào các hoạt động mọi lúc mọi nơi...
2.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ
Nhà trường không ngừng bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên. Để có được việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên dài hay ngắn hạn người quản lý phải lập kế hoạch sát thực tế điều kiện của nhà trường, kế hoạch từng năm học, kế hoạch theo giai đoạn từ  3 - 5 năm.
Nội dung cần tập trung bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên đó là:
Kỹ năng nghề nghiệp (Kỹ năng thiết kế bài soạn, kỹ năng tổ chức hoạt động, dạy và học trên lớp). Chuyên môn nghiệp vụ, năng lực làm việc của giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, luôn luôn biến đổi nên mục đích của việc bồi dưỡng năng lực sư phạm, chuyên môn nghiệp vụ là nhằm đẩy mạnh sự phát triển về chuyên môn cho tất cả giáo viên, giúp giáo viên có đủ năng lực tham gia vào công cuộc đổi mới giáo dục;
Kỹ năng nhận thức và nghiên cứu khoa học;
Kỹ năng hoạt động xã hội;
Ngoài ra còn cần bồi dương kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin...
Vì vậy để bồi dưỡng giáo viên có hiệu quả thì người hiệu trưởng cần đánh giá đúng tình hình thực trạng đội ngũ giáo viên về năng lực, xác định yêu cầu, nội dung và mức độ cần đạt theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên theo Quyết định số 02/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 22/1/2008 của Bộ GD&ĐT. Trên cơ sở đó hiệu trưởng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cụ thể về nội dung, về thời gian và về đối tượng. Việc bồi dưỡng tiến hành theo một số hình thức sau.
a. Bồi dưỡng tại chỗ       
Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cốt cán là nòng cốt cho phong trào bồi dưỡng chuyên môn tại chỗ của nhà trường
Thông qua hoạt động của các tổ khối chuyên môn dưới nhiều hình thức tổ chức: Tổ chức hội thảo đúc rút kinh nghiệm, chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin ...
cntt 1.JPG
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                Tổ chức chuyên đề bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin cho GV
 
Tổ chức hội thảo, trao đổi đúc rút kinh nghiệm
 
Thực hiện dự giờ với nhiều hình thức để góp ý, đúc rút kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau.
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tổ chức chuyên đề dạy mẫu
 
Hàng năm tổ chức hội giảng cấp trường, chọn ra những giáo viên có năng lực tham gia hội giảng cấp huyện,
 
 
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tổ chức tốt đăng ký thi đua ngay từ đầu năm học và có biện pháp động viên khuyến khích giáo viên thực hiện công tác thi đua.
Chỉ đạo tổ chuyên môn thường xuyên sinh hoạt để đúc rút những kinh nghiệm hay, phương pháp dạy mới để nhân rộng trong toàn trường, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
b. Bồi dưỡng bằng các hình thức khác
Để đáp ứng yêu cầu giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, nhà trường đã động viên khuyến khích giáo viên tham gia các lớp học nâng cao trình độ chuyện môn nghiệp vụ như tham gia học đại học, học cao đẳng, học tin học...; Tự học qua sách báo, tập san, qua mạng Intemet, học bồi dưỡng thường xuyên...
Chỉ đạo giáo viên tham gia các đợt tập huấn, chuyên đề do Sở, Phòng và cụm tổ chức;
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
          Dự giờ dạy thực hành chuyên đề giáo dục kỷ năng sống cho trẻ do cụm tổ chức
 
2.5.  Quản lý về trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi
Tham mưu với chính quyền địa phương, hội cha mẹ học sinh và các nhà hảo tâm tăng cường đầu tư trang thiết bị giáo dục, tài liệu, học liệu, phương tiện cho trẻ, đặc biệt đối với các lớp mẫu giáo 5 tuổi theo danh mục và tiêu chuẩn kĩ thuật Đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học tối thiểu cho giáo dục mầm non do Bộ GD&ĐT ban hành tại Thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11/02/2010 và Quyết định số 3141/QĐ-BGDĐT ngày 30/7/2010.
 Tiếp tục khuyến khích giáo viên, phụ huynh làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo từ các nguyên vật liệu sẵn có; phối hợp, động viên cộng đồng hỗ trợ làm để bổ sung thiết bị, đồ chơi,… cho trẻ; phối hợp với các trường phổ thông, tặng các sản phẩm trong giờ học mĩ thuật, thủ công cho trẻ mầm non để sử dụng học tập, vui chơi.
Nhà trường cấp văn phòng phẩm theo định mức cho các lớp đủ, kịp thời. Lập sổ theo dõi, cấp phát trang thiết bị, đồ dùng và ghi chép đầy đủ, cụ thể, trang thiết bị th­ường xuyên đ­ược kiểm tra, kiểm kê theo định kỳ hàng năm. những trang thiết bị phân chia theo các nhóm, lớp đ­ược gắn trách nhiệm quản lý bảo quản với giáo viên chủ nhiệm của lớp đó.
Chỉ đạo giáo viên h­ướng dẫn trẻ cách sử dụng, bảo quản, biết lấy, cất đồ dùng, đồ chơi gọn gàng ngăn nắp.
2.6. Tổ chức các hội thi bồi dưỡng kỹ năng cho trẻ.
Có thể nói biện pháp bồi dưỡng thông qua các phong trào thi đua là một biện pháp rất hữu hiệu, thông qua việc tổ chức các hội thi, giúp trẻ mạnh giạn tự tin bình tĩnh hơn trong mọi hoạt động.
Để đạt được những thành tích đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải trau dồi năng lực sư phạm, nghệ thuật lôi cuốn trẻ, phải chịu khó suy nghĩ, tìm tòi bạn bè, đồng nghiệp để từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện.
Phong trào thi đua gắn liền với các hội thi sẽ làm cho khí thế thi đua trong nhà trường càng sôi nổi, có tác dụng tuyên truyền với các bậc phụ huynh và cộng đồng xã hội quan tâm đến giáo dục Mầm non.
Vào các ngày lễ, ngày hội như: Ngày khai giảng, ngày 20/10, 20/11, 22/12, 8/3… Tôi phối hợp với Ban chấp hành công đoàn tổ chức tốt các hội thi như: “Cô duyên dáng, cháu tài năng”, “Hội thi múa hát dân ca”, “Thi giáo dục an toàn giao thông” cho cô, trẻ và phụ huynh tham gia.

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
2.7. Làm tốt công tác tham mưu.
Tôi nghĩ muốn nâng cao chất lượng trẻ tốt thì cơ sở vật chất trang thiết bị là vô cùng quan trọng. Vì thế mà tôi đã làm tốt công tác tham mưu với chính quyền địa phương, cấp trên để xây dựng và bổ sung cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học cho trẻ hoạt động; Tham mưu với các tổ chức đoàn thể trong xã hội chăm lo đời sống tinh thần, đảm bảo an toàn cho trẻ và hỗ trợ ngày công lao động xây dựng khuôn viên nhà trường...
Ví dụ: Như ngày tết Nguyên đán có quà cho trẻ em  đặc biệt khó khăn để kịp thời động viên trẻ, làm tốt công tác huy động trẻ.
Tham mưu với chuyên môn phòng giáo dục trong việc bổ sung thêm tài liệu nghiên cứu cho các trường Mầm non.
Tóm lại: Nếu làm tốt công tác tham mưu thì sự quan tâm của các cấp các ngành, các tổ chức trong nhà trường là chỗ dựa vững chắc, là niềm tin để cho tôi làm tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện.
2.8. Làm tốt công tác xã hội hóa.
Xác định được công tác xã hội hóa giáo dục là một trong những nhân tố có vai trò quyết định sự phát triển giáo dục trong trường Mầm non nói chung và nền giáo dục xã nhà nói riêng.
 Bản thân tôi luôn tuyên truyền rộng rãi về tầm qua trọng của bậc học Mầm non để các cấp, các ngành, các bậc phụ huynh và toàn xã hội quan tâm.
 Tôi tuyên truyền qua các hình thức như: Thông qua các cuộc họp phụ huynh, tuyên truyền cho phụ huynh thấy được vấn đề chăm sóc giáo dục và bảo vệ an toàn cho trẻ là trách nhiệm hàng đầu của trường Mầm non và cộng đồng xã hội.
 Thông qua các cuộc họp phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn thanh niên… tôi đã nhờ các đoàn thể lồng ghép các nội dung chăm sóc giáo dục trẻ để tuyên truyền.
 Chính nhờ làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục mà các cấp, các ngành mới thấm nhuần về sự khó khăn của bậc học Mầm non. Chính sự giúp đỡ đó đã phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của trường chúng tôi.
Bên cạnh đó, để thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ thì nhà trường cần chú trọng công tác xã hội hóa giáo dục như sau:
Tích cực phối hợp với các cơ quan, ban ngành, các tổ chức chính trị, xã hội phối hợp chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác truyền thông bằng nhiều hình thức. Phối hợp với Y tế, Hội phụ nữ để tuyên truyền, phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ khoa học cho các gia đình có con dưới 6 tuổi.
Thường xuyên bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên về kiến thức, kỹ năng tuyên truyền, phối hợp với các bậc cha mẹ và cộng đồng.
Phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể trong và ngoài nhà trường tuyên truyền và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xã hội hoá giáo dục.
3. Kết quả đạt được:
Sau khi tiến hành thực hiện các biện pháp nêu trên  tôi đã thu đư­ợc những kết quả  nh­ư sau:
3.1. Kết quả chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ
Bảng 4 : Số lượng trẻ
 
      T/S
nhóm               lớp
T/S trẻ    NT     Tỷ lệ T/S  trẻ     MG    Tỷ lệ      Tỷ lệ
chuyên                 cần
8       52    37%     190   100% 98%
 
Bảng 5: Chất lượng chăm sóc trẻ
 
Tổng số trẻ Đánh giá Số trẻ Tỷ lệ %
      242 PTBT cân nặng 232 96%
PTBTchiều cao 230 95%
SDD vừa 10 4%
Thấp còi độ 1 12 5%
 
 
Bảng 6: Chất lượng giáo dục trẻ
 
Tổng số trẻ Xếp loại Số trẻ Tỷ lệ %
242 Giỏi 38 15,8%
Khá 170 70%
Đạt yêu cầu 34 14,2%
Yếu 0 0
 
3.2. Kết quả so sánh, đánh giá giữa đầu năm và cuối năm
Bảng 7: So sánh, đánh giá kết quả chất lượng chăm sóc đầu năm và cuối năm
Sức khỏe trẻ Đầu năm (%) Cuối năm (%)
PTBT cân nặng 90% 96%
PTBT ,chiều cao 88% 95%
SDD vừa 10% 4%
Thấp còi độ 1  SDD vừa 12% 5%
 
Bảng 8: So sánh, đánh giá kết quả chất lượng giáo dục đầu năm và cuối năm
 
Tổng số Xếp loại Đầu năm (%) Cuối năm ( % )
242 Giỏi 0% 15,8%
Khá 40 % 70%
Đạt yêu cầu 50% 14,2%
Yếu 10% 0%
 
Nhìn vào các bảng trên ta thấy số lượng trẻ đến lớp tăng so với khảo sát đầu năm;  đặc biệt qua bảng so sánh chất lượng đầu và cuối năm, ta thấy sự khác biệt rõ ràng chất lượng chăm sóc giáo trẻ giữa số liệu đầu năm và cuối năm. Mức độ đạt được cuối năm so với đầu năm cao hơn rất nhiều. Điều này chứng tỏ các biện pháp đưa ra có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao chất lượng trẻ của trường mầm non chúng tôi.
- Đối với ban giám hiệu nhà trường: Ban giám hiệu nhà trường phấn khởi, vui mừng khi kết quả chăm sóc giáo dục trẻ được nâng lên trên năm lĩnh vực phát triển.
- Đối với phụ huynh: Phụ huynh yên tâm khi gửi con em đến trường, ủng hộ và đồng tình với các quy chế của nhà trường đề ra.
- Đối với cấp trên: Lãnh đạo cấp trên đã nghi nhận những nỗ lực cố gắng của tập thể cán bộ giáo viên và học sinh trường Mầm non chúng tôi.
III: Kết luận và kiến nghị:
1. Kết luận:
Qua một thời gian nghiên cứu về lí luận và thực tiễn đổi mới công tác quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ trong  trường Mầm non, tôi rút ra một số kết luận về công tác này như sau:
Quản lý là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Tất cả mọi tổ chức đều cần có sự quản lý tốt để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Quản lý giáo dục là một lĩnh vực đặc biệt vì những nét đặc trưng của hoạt động giáo dục. Người cán bộ quản lý trong nhà trường là người hiệu trưởng, đóng nhiều vai trò trong nhà trường, quản lý nhà trường vừa như là một tổ chức xã hội, vừa là một tập thể sư phạm. Người hiệu trưởng nhà trường phải quản lý nhiều hoạt động, trong đó hoạt động chăm sóc giáo dục giữ vai trò chính, và phải thiết lập cũng như tiến hành nhiều mối quan hệ trong quá trình quản lý nhà trường.
Để quản lý hiệu quả hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ đạt hiệu quả, người quản lý phải thực hiện những chức năng quản lý, cần nắm vững bản chất của các mối quan hệ đó để có những tác động quản lý phù hợp, hiệu quả và cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
- Nâng cao nhận thức về tư t­ưởng, chính trị
- Xây dựng kế hoạch
- Nâng cao chất l­ượng đội ngũ
- Quản lý về trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi
- Quản lý việc thực hiện ch­ương trình...
Đề tài “Một số biện pháp đổi mới công tác quản lý để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non” góp phần nâng cao chất l­ượng chăm sóc - giáo dục trẻ ở tr­ường, giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt, tạo điều kiện cho trẻ phát huy đ­ược khả năng độc lập, sáng tạo của mình và những thói quen hành vi tốt để sau này trẻ thực sự trở thành những chủ nhân của đất n­ước, vững bước tiếp nhận những tri thức mới , góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chính vì vậy, việc nâng cao chất l­ượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường  mầmnon hiện nay là rất cần thiết và không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non nói chung và của mỗi nhà trường nói riêng. Bởi vì, kết quả chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ chính là thước đo đánh giá năng lực quản lý, chỉ đạo của người hiệu trưởng. Do vậy người quản lý phải có những kỹ năng quản lý và những phẩm chất, năng lực nhất định để quản lý và lãnh, chỉ đạo nhà trường.
2. Kiến nghị:
* Đối với nhà trường:
Mỗi một cán bộ giáo viên trong nhà trường cần phải ý thức rằng: Công tác chăm sóc giáo dục trẻ là công việc chung của nhà trường, mỗi một thành viên trong trường đều phải có quyền và trách nhiệm tham gia thực hiện công tác này để góp phần đưa  phong  trào và chất lượng của trường ngày càng đi lên.
* Đối với cấp trên:
 - Chính quyền địa phương cần phải có sự quan tâm  xây dựng cơ sỡ vật chất và các hoạt động của nhà trường. Phối hợp chặt chẽ với nhà trường để tạo điều kiện cho nhà trường thực hiện tốt mục tiêu chăm sóc giáo dục, tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân cùng chung tay chăm lo cho sự nghiệp giáo dục mầm non để nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung của Đảng đề ra.
- Cấp trên cần quan tâm  bổ sung định biên giáo viên, hỗ trợ thêm đồ dùng học tập, đồ chơi ngoài trời cho trẻ; Thường xuyên tổ chức tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường mầm non.
Trên đây là một số kinh nghiệm “ Đổi mới công tác quản lý để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non ” rất mong được sự góp ý của hội đồng khoa học các cấp, bổ sung  để  kinh nghiệm có nhiều biện pháp hữu hiệu./.